Hộ niệm vãng sanh Tây Phương


NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
HỘ NIỆM VÃNG SANH TÂY PHƯƠNG

I.        Bài kệ phát nguyện của Phổ Hiền Bồ Tát

Nguyện tôi đến lúc xắp mạng chung

Trừ hết tất cả các chướng ngại

Chính mắt gặp Phật A Di Đà

Liền được vãng sanh cõi An Lạc

II.      
 Đại sư Ấn Quang nói:
Thành tựu cho một chúng sanh vãng sanh tây phương, tức là thành tựu
cho một chúng sanh làm Phật, cái công đức này không thể nghĩ bàn.

III.      
Ba yếu tố thành công của sự hộ niệm:
1.     Bản thân của người vãng sanh phải hội đủ Tam Tư Lương (ba điều
kiện) Tín Hạnh Nguyện, lúc bình thường phải dặn dò gia quyến chú ý
những điều cần biết khi vãng sanh, Đại Sư Ngẫu Ích dạy: Có được vãng
sanh toàn do tín nguyện có hay không, phẩm vị cao hay thấp đều do trì
danh sâu hay cạn.

2.     Con cái quyến thuộc phải phát đại hiếu tâm và từ bi ân huệ tâm,
tuân theo lời Phật dạy như pháp hộ trì cha mẹ thân nhân vãng sanh tây
phương, thì gọi là: Tự thoát khỏi trần lao, mới có thể thành tựu.

3.     Các liên hữu chân thành hết lòng hộ niệm, thành tựu cho người khác
vãng sanh, sẽ được quả báo người khác thành tựu cho mình vãng sanh.
Tổ Ấn Quang nói: Khuyên bảo mọi người nên tu tịnh nghiệp, nguyện cho
chúng sanh đó là bổn nguyện của Phật.

4.     Nếu có thể y theo ba yếu tố như pháp hộ trì trợ niệm, thì nhất định
vạn người tu vạn người đi, thành tựu cho chúng sanh vãng sanh tây
phương, viên thành Phật đạo, công đức không thể nghĩ bàn. Nếu vãng
sanh có chướng ngại, thì phải chân thành cầu Phật gia trì, bài trừ chướng
ngại, thành tựu vãng sanh đại sự.

IV.     
Đại Sư Ấn Quang khai thị ba điều lúc lâm chung:
điều thứ nhất: Phải khéo khai thị an ủi, khiến cho bịnh nhân sắp mất
sanh lòng chánh tín. Tha thiết khuyên bịnh nhân, buông bỏ tất cả, nhất
tâm niệm Phật, nếu có dặn dò việc gì, bảo họ mau dặn dò, dặn dò xong,
bảo họ không nên lo nghĩ chuyện khác, chỉ nghĩ đến ta sắp theo Phật sanh
về cõi Cực Lạc, nhất tâm chí thành niệm Phật, nhất định cảm được lòng
từ bi của Phật, Ngài đích thân đến tiếp dẫn, liền được vãng sanh.

điều thứ hai: Mọi người luân phiên niệm Phật, để hộ trì tịnh niệm cho
bịnh nhân. Tâm lực của bịnh nhân yếu ớt, không thể liên tục niệm lâu dài,
ngay trong lúc này phải nhờ người khác hộ niệm, mới được đắc lực. Nên
biết rằng: Những người chịu giúp bịnh nhân tịnh niệm vãng sanh, cũng
được quả báo người khác hộ niệm cho mình, đừng nói là chỉ vì cha mẹ
mới hộ niệm như vậy, cho dù là người không quen biết cũng phải giúp họ
hộ niệm, cũng là bồi dưỡng phước điền của mình, giúp cho một người
thành tựu vãng sanh tịnh độ, tức là giúp cho một người thành tựu làm
Phật, hộ niệm nên chia thành từng nhóm luân phiên niệm Phật, pháp khí
chỉ dùng một cái khánh, niệm Phật không mau không chậm, từng chữ rõ
ràng.

điều thứ ba: Tuyệt đối không nên dời động hay khóc lóc, e sợ làm hỏng
việc. Bịnh nhân lúc sắp phân chia Phàm, Thánh, Người, Quỷ, lúc đó chỉ
niệm Phật cho thần thức của họ, không nên lau mình, thay quần áo, dời
động, khóc lóc, để cho họ tự nhiên ngồi nằm, vì vậy có thuyết rằng: đỉnh
nóng sanh cõi Phật, nơi mắt sanh cõi trời, ngực nóng sanh cõi người,
bụng nóng sanh ngạ quỷ, đầu gối đọa súc sanh, bàn chân xuống địa ngục.
Lúc này mọi  người nên khẩn thiết mà niệm Phật, không nên thãm dò hơi
nóng của người lúc lâm chung, họ quyết định đới nghiệp vãng sanh.
Trong khổ thơ có nói:

Ta thấy người khác chết, tâm ta nóng như lữa,

Không phải nóng người khác, sẽ đến lượt ta đây.

V.     
 Đại Sư Hoằng Nhất khai thị cho người sắp mất:
1.     Bịnh chưa nặng – có thể tiếp tục uống thuốc, nhưng phải niệm Phật,
không nên nghĩ rằng uống thuốc sẽ lành bịnh.

2.     
Lúc bịnh nặng –  phải buông bỏ hết tất cả, nhất tâm niệm Phật cầu
sanh Tây Phương (nếu thọ mạng chưa hết, thì sẽ mau lành bịnh), nếu
cảm thấy đau đớn, cũng không nên sanh lòng kinh hoảng, mà nghĩ rằng ta
đang trả nghiệp, lúc tâm trí còn sáng suốt, phải thỉnh thiện tri thức đến
thuyết pháp, khiến cho sanh lòng hoan hỷ.

3.     
Lúc lâm chung – không nên hỏi di chúc, không nên trò chuyện.
Nếu bịnh nhân muốn lau mình, thay quần áo, thì nên y theo ý của bịnh
nhân làm, bịnh nhân muốn ngồi hay nằm thì cũng tùy ý của bịnh nhân,
không nên miễn cưỡng, phải thỉnh người đến hộ niệm, trong phòng bịnh
nhân phải thờ một tượng Phật A Di đà tiếp dẫn, để cho bịnh nhân trông
thấy. Phải luân phiên hộ niệm, khuyên bảo bịnh nhân niệm Phật, tiếng
niệm Phật không thể chói tai.

4.     
Lúc mạng chung – không nên khóc lóc, dời động, lau mình, thay
áo, không cần rờ đỉnh đầu xem có hơi nóng hay không, tám tiếng đồng hồ
sau, nếu các khớp xương đã cứng, thì nên lấy khãn thấm nước nóng đắp
lên, không bao lâu sẽ mềm mại.

VI.    
 Vãng sanh chứng nghiệm:
Thời xưa – có ghi chép trong quyển Tịnh độ Thánh Hiền Lục, Vãng
Sanh Truyện, Vãng Sanh Tập: đời đường ông Trương Thiện Hòa, đời
Tống ông Vương Long Thơ, ông Hoàng Dã Thiết, Pháp Sư Khả Cửu.
đến thời đại Dân Quốc đại Sư Ấn Quang, đại Sư Hoằng Nhất, đại sư
đế Nhàn, cư sĩ Giang Vị Nông, cư sĩ Hồ Tùng Niên v.v…

Thời nay – Lão Hòa Thượng Quảng Khâm, Lão Pháp Sư đạo Nguyên,
lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, cư sĩ Lại Tạ Diệu, cư sĩ Khưu Phiên Thử, cư sĩ
Lý Tế Hoa, cư sĩ Giang Thúy Thường, cư sĩ Vu Thổ Sát, cư sĩ Lưu Lý
Cúc v.v… những vị vãng sanh trong đời cận đại, có ghi chép trong quyển
Vãng Sanh Lục và Nguyệt San Minh Luận.

VII.   
 Tài liệu tham khảo hộ niệm vãng sanh
Quy Tắc và Ý Nghĩa của sự Hộ Niệm do Tuyết Lư Lão Nhân giảng,
quyển Lâm Chung Tu Tri và Lâm Chung Tân Lương.

Phải thường chí thành niệm câu:

Nam mô A Di đà Phật.

đời này tiêu nghiệp chướng,

Lâm chung không chướng ngại,

đồng sanh cõi Cực Lạc,

Thừa nguyện lực tái lai.



Nét bút của Đại Sư Hoằng Nhất


Kiến tật bịnh nhân  
đương nguyện chúng sanh     
Tri thân không tịch     
Ly quai tránh pháp


Tạm dịch:  
Thấy người bịnh tật,
Nên nguyện chúng sanh
Biết thân không tịch,
Xa lìa tranh cãi.