H.T. Tuyên Hóa
Ăn Chay - Không Ăn Chay
Lúc Phật tại thế chủ trương người
phải ăn chay, nhưng điều nầy không bó buộc. Vì sao? Bởi bấy giờ nhiều người
thích vị ngon, nếu bắt buộc họ phải ăn chay, e họ không dám xuất gia.
Nhân đó lúc bấy giờ Phật có châm chế cho đệ tử thích ăn thịt, Ngài cũng không
nói lý do gì. Người xuất gia là người ăn uống đơn giản, không phải kẻ
tham ăn, nên mới nói: "Người ta cúng dường thứ gì, ta ăn thứ đó." Người tham ăn thời chọn nầy chọn nọ.
Cứu cánh của việc ăn thịt hay không
ăn thịt có gì không giống nhau? Ăn thịt, lòng dục nhiều, vọng tưởng nhiều, không
dễ dàng an định. Không ăn thịt thời ham muốn ít, cho là đủ, không có
vọng tưởng gì nhiều, khí huyết thanh thuần, không bị ô trọc. Trong thịt có chứa
nhiều khí độc, bởi nó xuất sanh từ nơi ô uế, cho nên người ăn thịt
không dễ dàng trì giới, không dễ dàng khai mở trí tuệ, không dễ dàng chứng đắc tam muội; tưởng giữ giới thời vọng tưởng chờn vờn, rồi không giữ
được qui cũ, không thể nào an định, đi, đứng, nằm, ngồi đều bất an. Đã
không được an định thời không thể có chân chánh trí huệ. Có chân chánh trí huệ
thời bất cứ vấn đề gì cũng không xảy ra. Ăn thịt là đi vào con đường
ngu si, không ăn thịt thời đi trên con đuờng trí tuệ. Chỗ không đồng là ở
đây.
Ai muốn có chân chánh trí huệ, thời ít ham muốn, dễ cho là đủ. Nếu
ăn nhiều thịt, đem thịt của chính mình và thịt heo lập thành công ty hữu hạn, tương lai không biến thành heo thời là chuyện lạ đấy! Ăn nhiều
thịt bò thời thành công ty hữu hạn thịt bò. Chỗ nào cũng thịt bò tương
lai có khả năng biến thành bò. Cho đến ăn thịt chó biến thành chó. Ăn thịt chuột
biến thành chuột. Quí vị ăn thịt gì, thân thể của quí vị bởi nhân duyên
nầy nên sanh tồn, lâu dần lâu dần, sẽ biến thành giống đó. Bởi trong thân thể
quí vị có khí huyết của heo, có khí huyết của bò. Huyết đó sẽ biến
thành huyết, khí đó biến thành khí, thịt đó cũng biến thành thịt. Người có trí
phải nghĩ kỷ điều nầy!
Giảng ngày 22 tháng 1 năm
1984
Quả Báo Sát
Sanh
Việc cừu oán lớn nhất trên thế giới
không qua được sát sanh. Giết người đền mạng, thiếu nợ trả tiền. Anh giết cha,
anh của người ta, người ta phải giết cha, anh của anh. Đó là chuyện tàn
sát lẫn nhau, không bao giờ chấm dứt. Bởi giết người quá nhiều, cho nên quả báo
đến rất mau, gọi là báo ứng nhãn tiền.
Người thời nay vì sao
phát sanh nhiều chứng bệnh lạ, thầy thuốc cũng đành bó tay. Thế thời làm thế nào
đây? Phải thành tâm sám hối, sửa lỗi lầm tự làm người mới, làm nhiều
việc công đức cho chúng sanh, mới có thể tiêu trừ nghiệp chướng. Nếu không làm
như thế e rằng không dễ gì được tốt đâu. Đó là chân lý, không phải mê
tín.
1 - Mụt nhọt mặt người đời hiện
tại.
Hôm nay giảng hai công án về sát
sanh. Vào khoảng trước sau năm 1945, tại chùa Thừa Thiên, tỉnh Tô Châu, Trung
Quốc có vị hòa thượng trụ trì. Tuy vị nầy là người theo đạo Phật, nhưng
tin ngoại đạo, trong chùa miếu thờ Tiên Hồ Ly. Do đó hồ ly ở vùng miếu nầy ra
vào tự do, không bị xua đuổi, nó cũng không sợ người. Người và hồ ly ở
chung, bình an vô sự.
Lúc đó, Hòa Thượng Đại Minh làm thủ tọa ở đây, đang
bế quan duyệt đọc đại tạng kinh. Hồ ly cũng đến phòng hoà thượng đồng tu. Thủ
tọa duyệt kinh, nó nằm ngủ trên tấm đệm thủ tọa lạy Phật. Khi thủ tọa
đến lạy Phật bảo nó: "Ta muốn lạy Phật, mầy ra ngoài đi!" Lúc đó hồ ly
lửng thửng bước ra khỏi phòng. Chờ khi thủ tọa lễ xong, nó lại vào, dĩ nhiên là
ngủ trên tấm đệm bái Phật. Ngày nào cũng như thế trải qua thời gian
dài, hai bên thành như bạn đạo.
Một ngày kia, hòa thượng thủ tọa có chút
nóng tính, muốn bái Phật bèn bảo nó: "Mầy phải ra ngay, không ta đánh chết mầy!"
Hồ ly trưng mắt nhìn như không lý đến hòa thượng, nó tiếp tục nhắm mắt,
ngủ tiếp. Nó nghĩ đại khái: Người tu hành chân chánh, từ bi là hoài bảo, phương tiện làm cửa ngỏ, cho nên không đi.
Bấy giờ, thủ tọa tức
giận: "Há như thế sao! Khách đoạt ngôi vị chủ đơn giản vậy sao, ta đánh chết
mầy!" Nói xong lấy cây thước vuông uy hiếp nó, buộc nó phải đi. Hồ ly
không lý gì đến cử động nầy, thủ tọa còn cơn nóng vung thước vuông đánh hồ ly,
không ngờ trật tay đánh vỡ đầu hồ ly, não máu chảy ra đỏ cả tấm đệm bái
Phật, thế là nó bị đánh chết. Thủ tọa phạm tội sát sanh, lòng vô cùng hối hận,
không biết giải quyết thế nào cho ổn. Nghiệp tội nầy làm sao tiêu đây?
Nghĩ quanh nghĩ quẩn, nghĩ không ra cách nào. Bỗng nhiên linh cơ mấp
máy, như có tiếng ai vừa nói, đánh chết hồ ly, đem thịt nó cho người chung quanh
ăn, nghiệp tội sẽ hết. Cuối cùng lóc da hồ ly, đem thịt cho người làm
công ăn. Thủ tọa cho rằng như vậy đã giải quyết xong.
Không ngờ bảy ngày
sau, linh hồn hồ ly nói với thủ tọa: "Tôi đã đến Diêm Vương cáo tố ông, ông phải
đền mạng cho tôi." Thủ tọa sau khi ngồi thiền nghe như vậy, kinh khủng
muôn phần, cuối cùng phải niệm chú Đại Bi. Bởi sức gia trì của chú, hồ ly không
thể tiếp cận thân thể của hòa thượng, cho nên không làm hại được ông,
nhưng nó không bỏ đi, lúc nào cũng đến quấy nhiễu ông. Sau bảy ngày hồ ly biết không thể báo cừu, bèn tìm viện binh. Quí vị nghĩ thử xem, nó mượn
binh nào đây? Đó là âm hồn của binh sĩ Nhật Bổn chết trong trận Nhật
Bổn xâm lăng Trung Quốc. Hồ ly chiêu tập rất nhiều binh đội đến, hướng vào thân
thể thủ tọa dùng đạn pháo bắn vào, oanh kích rất nhiều ngày cũng bắn
không trúng thân thể của thủ tọa. Vì sao? Vì thủ tọa đem hết tinh thần tụng chú
Đại Bi, không rời thiền sàng, đạn pháo chỉ rơi bốn bên của thủ tọa, cho
nên bắn hoài không trúng.
Thủ tọa không ăn không uống nhiều ngày, thực
tại sức cùng lực kiệt, trong một lúc tinh thần hốt hoảng, đầu gối bên phải bị
pháo trúng, âm binh Nhật Bổn bèn thối lui. Thủ tọa giải trừ được trận
pháo kích uy hiếp, lòng rất sung sướng, cho rằng vô sự. Vừa mới nghĩ như thế,
cảm giác bị pháo trúng phát đau, cúi đầu nhìn xuống, đầu gối có mụt
nhọt giống mặt người, có miệng, có răng, vừa sưng vừa đau, không thuốc
nào chửa khỏi.
Một ngày kia, người chung quanh nói với ông: "Lấy thịt mỡ
đắp lên miệng mụt nhọt, có thể bớt đau.", ông làm theo quả nhiên có hiệu quả. Nhưng khi thịt bị mụt nhọt mặt người ăn hết, lại bắt đầu đau. Cứ như
thế hành hạ hoài, khổ không chỗ nói. Trải qua nhiều ngày đau khổ, thủ
tòa giác ngộ chỉ có tiêu trừ nghiệp chướng mới khỏi khổ. Cuối cùng nhận chân tu
hành, không để ý đến đau đớn. Ông cố nhịn trăm phương khổ sở, nhất tâm
bái Phật, sám hối nghiệp sát, trải qua ba năm mới thuyên giảm.
Vị hòa
thượng thủ tọa nầy là vị Hoà Thượng đi tham học bái phỏng các bậc tu hành Thiện
tri thức khắp nơi. Ông từng triều bái tứ đại danh sơn (Ngũ Đài Sơn, Nga
My Sơn, Cửu Hoa Sơn, Phổ Đà Sơn) cho đến bát đại tiểu sơn trong thiên hạ. Tuy có
lỡ tay đánh chết hồ ly, cũng đã sám hối bái Phật mới tiêu trừ nghiệp
chướng. Do đó phải biết, nghiệp báo sát sanh thật là tệ hại. Các vị chú ý, cần
phải làm nhiều công đức phóng sanh. Nếu vô ý sát sanh, sẽ mắc bệnh lạ
lùng, không cách nào chửa trị, hoặc thành người tàn phế, trọn đời khó chịu!
2 - Mụt nhọt mặt người đời quá
khứ.
Thời vua Ý Tông đời Đường, có vị Quốc
Sư, tên gọi là Ngộ Đạt Thiền Sư. Khi ông ở chùa Cư An, Trường An giảng kinh, vua
Ý Tông thân hành đến dự thuyết pháp, đặc biệt cúng dường một tòa trầm
thủy đàn hương. Lúc bấy giờ, quốc sư sanh tâm kiêu ngạo, tự nhận mình
là cao tăng nhất đời nầy. Không ngờ vừa có vọng tưởng, hộ pháp long thần liền
rời khỏi ông. Bấy giờ trái chủ mười đời của ông ta nhân cơ hội nầy tìm
cách báo thù, đánh vào ống quyễn ông một cái. Từ đó, đầu gối ông phát mụt nhọt
có hình mặt người, có lông mi, có mắt, có miệng, có răng, mỗi ngày đòi
ăn thịt, uống rượu. Nếu không cho thịt rượu, mụt phát đau đớn, khổ không thể tả.
Cả đám y sư bó tay chịu thua.
Quốc Sư Ngộ Đạt, lúc chưa hiển
đạt, có một năm ngụ tại chùa có vị tăng phát một mụt độc quái ác, miệng nhọt
chảy nước, chảy máu, mười phần dơ bẩn, vả lại mùi xông hôi thúi, khiến
người người tránh xa, không ai dám gần. Lúc đó Thiền Sư Ngộ Đạt trú ngụ cách có
một cửa sổ, ngày ngày chiếu cố, không ngại mùi hôi thúi phục dịch vị
tăng nầy. Không cần biết đến thời gian, hết hè sang thu, khí hậu trở lạnh, mụt độc của vị tăng dần dần thuyên giảm. Lúc sắp chia tay, vị tăng có
bệnh nói với Thiền Sư Ngộ Đạt:
"Cám ơn ngài chiếu cố, ngày sau nếu ngài
có chuyện gì nan giải, có thể đến Mông Sơn, Tứ Xuyên tìm tôi, trên núi có hai
cây tùng to để ngài dễ nhận. Tên tôi là Ca Nặc Ca."
Thiền Sư Ngộ
Đạt hồi tưởng lại chuyện cũ, bèn lên Mông Sơn tìm vị sư bị mụt độc khi
trước.
Từ xa trông lên lưng chừng núi, đã thấy hai cây tùng cao ngất tận
chín tầng mây. Đến trước hai cây tùng, phát hiện có một ngôi tự viện bằng vàng xanh rực rỡ, định tìm vị tăng, thời đã thấy ông nầy đứng trước
cửa chùa mỉm cười đưa ông vào. Thiền Sư Ngộ Đạt đảnh lễ xong bèn kể đầu
đuôi nỗi khổ của mình. Vị tăng bày thiền sư sáng mai xuống con suối dưới hốc đá
rửa đi, thời bệnh khỏi.
Sáng ngày thứ hai, tiểu đồng đưa ông đến con suối
dưới hốc đá. Đang lúc rửa ráy vết nhọt, mụt nhọt miệng người phát ra tiếng nói:
"Không cần nữa! Giữa chúng ta có đoạn cừu oán chưa hết. Ngài là cao
tăng, đọc nhiều hiểu rộng, nhất định có đọc qua sử Tây Hán, chắc biết
chuyện Viên Án chém Triệu Thố không? Viên Án là ông bây giờ, còn Triệu Thố chính
là tôi. Ông tu đã mười đời, tu hành chân chính, tôi không tìm được dịp
báo cừu. Hiện nay ông sanh tâm kiêu mạn, khiến tôi có cơ hội, may có Tôn giả Ca
Nặc Ca giàu lòng từ bi, hóa giải oán cừu giữa chúng ta, Tôn giả đã dùng
phép tam muội rửa tôi, từ nay về sau, không còn oán hận ông."
Quốc Sư Ngộ
Đạt sau khi nghe hồn phiêu phách tán tận chín tầng mây, cấp tốc vốc nước rửa mụt
độc, đau nhói tận xương, hôn mê bất tỉnh. Một thời gian lâu ông mới
tỉnh, nhìn đầu gối không còn thấy dấu vết mụt độc nữa. Bấy giờ mới biết vị tăng
đó là thánh, những tưởng trở lại chùa lễ bái, vừa quay đầu lại, chẳng
thấy chùa đâu cả. Cuối cùng lấy cỏ bện lều, sớm chiều lễ tụng, tu phép sám hối,
cho nên nay mới có bản Từ Bi Tam Muội Thủy Sám.
Hai công án kể
trên, đại đồng tiểu dị, khiến người cảnh tĩnh nhân quả báo ứng mảy may không sai
sót. Chuyện trên là báo ứng ngay đời nầy, chuyện dưới báo ứng sau mười
đời. Tóm lại, nghiệp duyên thành thục, thời khắc đến, rốt lại phải chịu quả báo.
Hôm nay giảng công án nầy, để mọi người hiểu sát sanh có hại, không nên
xem chuyện đó là trò chơi. Hiện nay khoa học càng tiến bộ, võ khí giết người
càng tệ hại hơn nữa. Chủng chủng nhân quả làm sao tiêu trừ đây? Hiện
tại thế giới khói đen chướng khí, một cuộc đại chiến có thể xảy ra bất cứ lúc nào, quỉ oán hờn mượn cơ hội nầy báo thù. Cho nên nói oan oan tương
báo, biết bao giờ mới hết? Ngoại trừ không sát giới; nếu không, vĩnh
viễn không có lúc nào an tịnh.
Giảng ngày 15 tháng 4 năm
1984
Source: Bồ Ðề Hải No. 53 WWW. Saigon.com/~fopusa